8h sáng, cú kéo rèm cửa mạnh khiến căn hộ rộng hơn 100 m² trên phố Nguyễn Trãi (Hà Nội) bừng sáng.
Giữa bàn tiếp khách ngổn ngang sách vở, tài liệu và chiếc gạt tàn, một nén trầm cháy dở đang chầm chậm tỏa hương. Mọi thứ trong nhà dường như được bài trí theo trật tự mà chỉ có chủ nhân mới hiểu được.
Trên ghế sofa, GS Đặng Hùng Võ lặng nhìn ra ban công đầy nắng. Vị nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường mặc sơ mi trắng, để râu. Tuổi 80 khiến vóc dáng ông mảnh hơn, lưng còng xuống, nhưng đôi mắt vẫn sáng và giọng nói đầy sinh lực.
5 năm trước, khi cuộc hôn nhân thứ ba – và có lẽ cũng là cuối cùng của ông – kết thúc, cô con gái cả từ Australia “bổ nhào” về nước tìm mua nhà cho bố.
“Nó muốn mua nhà liền đất vì nghĩ tôi quen sống trong nhà thổ cư. Tôi bảo thôi, con cứ mua căn hộ, chứ nhà đất đắt đỏ quá.”
Từ đó, ông sống một mình trong căn hộ đứng tên con gái. Không có người giúp việc, ông tự lo từ bữa ăn đến việc dọn dẹp nhà cửa.
“Bên trong sự bừa bộn ấy có trật tự của riêng tôi. Tôi biết thứ gì để ở đâu, khi cần lấy được ngay. Người khác đến dọn rồi cất theo ý họ, đến lúc tìm rất mệt.”

Có một nghịch lý: người dành gần trọn đời nghiên cứu đất đai, từng sống trong nhiều căn nhà thổ cư giữa Hà Nội, đến tuổi 80 lại không đứng tên bất kỳ mảnh đất hay căn nhà nào.
Nhưng ông không kể điều đó bằng thái độ tiếc nuối.
“Tôi thích và số tôi phải sống một mình. Bây giờ thấy tự do, không hề buồn.”

Mỗi chiều thứ Bảy, căn hộ chồng chất đồ đạc của GS Đặng Hùng Võ lại rộn rã tiếng cười nói, sực nức mùi thức ăn. Hai người con vẫn đang tuổi đi học thường qua chơi, vừa thăm bố, vừa để được bố chiều chuộng, nấu cho những món mình thích.
Trải qua 3 cuộc hôn nhân, ông Võ có 4 người con. Hai con với người vợ đầu đã bước vào tuổi trung niên, trong khi hai con với người vợ thứ ba vẫn còn nhỏ.
“Mặc dù chẳng có mâu thuẫn gì, nhưng mấy đứa khác mẹ cũng không thân nhau lắm. Có lẽ vì cách nhau gần 40 tuổi và sự khác biệt mái ấm. Dù thế, cả 4 đứa vẫn giữ tình cảm rất đẹp với tôi.”
Cuộc hôn nhân đầu tiên khép lại sau tổn thương rất lớn. Dù vậy, ông Võ chỉ kéo vali rời đi, để lại căn nhà mặt phố – tài sản chung lớn nhất – cho vợ cũ.
“Kỳ kèo với nhau một lời về tài sản chẳng để làm gì cả, chỉ mệt mỏi hơn thôi.”

Không phải vì ông quá giàu, càng không phải vì phóng khoáng. Ông chỉ không muốn tranh chấp với người vốn là mẹ của các con mình.
“Tôi rành mạch chuyện nào đi chuyện ấy. Không ở được với nhau thì thôi, không có gì phải thù ghét.”
Sau ly hôn, con trai cả sống với ông, con gái ở cùng mẹ. Ông vẫn chu cấp, đồng hành và thu xếp cho con gái sang Australia học thạc sĩ. Nhiều năm sau, chính cô từ Australia trở về mua căn hộ cho cha, khi ông thêm lần nữa rời khỏi hôn nhân mà không giữ lại nhà.

Gia đình cô con gái lớn của GS. Võ, hiện đang sống và làm việc tại Australia. Ảnh: NVCC

Gia đình cậu con trai lớn của GS. Võ, ngụ tại quê ở Đa Tốn, Gia Lâm, giữ nơi hương khói cho tổ tiên. Ảnh: NVCC
Khoảng nửa năm sau cuộc chia tay đầu tiên, ông Võ kết hôn lần thứ hai.
“Lại xây một tổ ấm khác”, ông nhớ lại.
Cuộc hôn nhân ấy đi qua những năm ông ở đỉnh cao sự nghiệp: 8 năm làm Phó tổng cục trưởng, Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính, rồi 5 năm giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Nhưng cũng chính trong những năm tưởng như đủ đầy nhất, ông lại trải qua cuộc đổ vỡ khiến mình mất mát nhiều nhất về tài sản.

Những năm học tập tại Ba Lan, ông Võ chứng kiến nhiều lưu học sinh kiếm tiền bằng cách mang vài chiếc quần bò sang Liên Xô bán với giá gấp đôi, gấp ba.
Không muốn chịu cảnh nghèo khó mãi, ông cũng chọn đi buôn. Nhưng thay vì vài ba sản phẩm, ông tổ chức những chuyến hàng quy mô hàng trăm chiếc rồi mở rộng sang nhiều mặt hàng khác.
Cách làm bài bản mang lại thành công đến mức bạn bè nói vui rằng sau này phải dựng tượng ông ở biên giới Ba Lan – Liên Xô. Trong cộng đồng lưu học sinh, ông được gọi là “chủ soái” buôn bán xuyên biên giới.
Thế nhưng sau khi hoàn thành việc nghiên cứu, ông vẫn trở về Việt Nam đúng hạn, không kéo dài ngày nào.
“Tôi không thực sự thích kinh doanh. Lớn lên trong một gia đình Nho học, tôi luôn tin chữ nghĩa và tri thức mới là căn cốt của con người.”
Ông mang về khoảng 100.000 USD. Khi ấy, mỗi lượng vàng có giá khoảng 500 USD, còn đất trung tâm Hà Nội chỉ khoảng 2,5 chỉ vàng/m². Số tiền ấy đủ để ông mua 5 căn nhà, trong đó có một căn nhà nhỏ tại 12 Nguyễn Khắc Hiếu để mẹ và con trai ông sinh sống.
“Đó là tiền riêng tôi mang về, chứ không phải do chức vụ mang lại.”
Giá đất sau đó tăng nhanh cùng với quá trình đô thị hóa. Theo ông Võ, đến năm 1993, giá đất đã tăng gấp 10 lần, khoảng 2,5 lượng vàng/m²; năm 2003 tiếp tục tăng lên khoảng 25 lượng/m².
5 căn nhà trở thành chỗ dựa tài chính, giúp ông không phải quá lo lắng về vật chất trong những năm lương cán bộ còn thấp, chỉ khoảng 10 triệu đồng/tháng.
Nhưng rồi 4 căn nhà và nhiều căn nhà khác nữa hình thành trong thời gian hôn nhân đều lần lượt rời khỏi tay.

Theo lời ông Võ, trong cuộc hôn nhân thứ hai, nhiều bất động sản được tạo lập không đứng tên ông. Ngay cả những căn nhà mua bằng số tiền mang từ Ba Lan về cũng lần lượt được chuyển sang tên người khác.
Mặc dù vậy, cho tới khi ly hôn, người vợ cũ chỉ thanh toán phần giá trị của căn nhà hai người từng sống tại 68B Nguyễn Hữu Huân. Ông Võ vẫn nhận số tiền ấy, cũng không hỏi thêm điều gì và rời đi. Đây cũng là người vợ cũ duy nhất ông không còn giữ liên lạc.
“Mất nhiều đấy, nhưng tôi cũng chẳng coi là gì cả. Không phải vì thừa tiền, mà bởi tôi không nghĩ tiền bạc hay nhà đất là thứ quan trọng nhất.”

Trước cuộc hôn nhân thứ ba, ông Võ dùng số tiền vợ cũ trả cho căn nhà trên phố Nguyễn Hữu Huân để nhận chuyển nhượng lại khu đất cũ của tổ tiên ở Gia Lâm, rồi giao cho con trai cả. Phần còn lại, ông mua căn nhà trên đường Giải Phóng để xây dựng gia đình mới.
Cuộc hôn nhân ấy kéo dài hơn 10 năm rồi cũng kết thúc bởi những khác biệt ngày càng lớn trong đức tin và cách sống. Một lần nữa, ông kéo vali rời đi, để lại căn nhà đang ở cho vợ và hai con.
Sau đó, người vợ cũ bán căn nhà, mua 2 nơi ở khác cho các con. Ông Võ vẫn tiếp tục chu cấp, thậm chí dùng toàn bộ số tiền dưỡng già để giúp con gái út mua đất, xây nhà nghỉ ở vùng biển. Có thời điểm, trong 15 triệu đồng lương hưu mỗi tháng, ông gửi tới 10 triệu đồng nuôi con; phần chi tiêu còn thiếu được bù đắp bằng thu nhập từ giảng dạy và nói chuyện chuyên môn.
Với ông, hôn nhân có thể kết thúc, nhưng trách nhiệm của người cha thì không.


Ảnh trái: Hai anh em lứa con sau của GS. Võ. Anh đưa em lên nhận giải thưởng cuộc thi vẽ tranh “Em yêu nghệ thuật xiếc Việt Nam”. Ảnh phải: Cô con gái nhỏ của GS. Võ đòi lên điểm cao nhất Việt Nam, tại đó có điểm tọa độ trong mạng lưới GPS do bố cô thiết kế. Nguồn: NVCC
Nhìn lại ba lần kết hôn, ông thừa nhận mình từng nhầm lẫn giữa lòng thương và tình yêu.
“Tôi có tính cưu mang những người yếu thế, bị bắt nạt. Thành ra cả ba trường hợp đều là mình cảm thông với số phận cơ nhỡ của ai đấy, mình cứ nghĩ đó là tình yêu, nhưng cuộc đời thực tế đã dạy cho biết rằng ‘không phải’.”
Ông không tự nhận mình cao thượng, cũng chưa từng cho rằng mọi quyết định năm xưa đều đúng. Những gì đã cho đi, ông không tiếc; những lựa chọn đã đưa ra, ông tự nhận trách nhiệm.
“Tôi không hối hận điều gì cả. Cái gì mình đã quyết, dù dở cũng là tôi tự quyết nên phải chịu, trách ai được.”


GS Đặng Hùng Võ sinh ngày 25/11/1946 trong gia đình Nho học tại Gia Lâm, Hà Nội. Chưa đầy một tháng sau, đúng ngày Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, cha ông hy sinh tại Bắc Giang khi mới 22 tuổi. Lần đầu tham gia chiến đấu – tiến công câu lạc bộ sĩ quan Pháp – cũng là lần cuối cùng của người cha trẻ.
Không có ký ức về cha, ông lớn lên dưới sự dạy dỗ của ông nội – một trí thức thành thạo cả chữ Hán lẫn tiếng Pháp.
Năm 1954, sau thời gian tản cư tại Hải Phòng, gia đình trở về quê.
“Lúc đó vừa hòa bình, ông nội tôi vô cùng háo hức muốn đoàn tụ với hai người con đã cùng bố tôi tham gia kháng chiến từ ngày 19/12/1946. Ông vội bán hết nhà cửa ở Hải Phòng để trở về Gia Lâm.”
Nhưng chỉ vài tháng sau, ông cụ bị quy thành phần địa chủ trong cải cách ruộng đất. Hai người chú của ông Võ khi ấy đều là đảng viên, phải làm mọi việc theo yêu cầu của tổ chức nên đã viết đơn từ bỏ quan hệ với bố mẹ. Cú sốc khiến ông nội của ông Võ suy sụp.
Năm ấy, ông Võ mới 8 tuổi. Chứng kiến ông nội ngồi một mình giữa những lời đấu tố, chỉ trích của làng xóm; tận mắt thấy cả gia đình bị đuổi ra sống trong căn nhà tranh rách nát của một cố nông ở rìa làng, cậu bé Võ chỉ biết ngồi cạnh ông trong im lặng và tự hỏi: “Vì sao mọi chuyện lại thế này?”
Biến cố khiến việc học của ông Võ gián đoạn một năm. Sau khi Nhà nước sửa sai, gia đình được cấp lại 300 m² đất cùng căn nhà ngang. Ông nội lại gắng cho cháu đi học và dặn:
“Chữ nghĩa và tri thức mới là chỗ dựa bền vững nhất, dù tài sản có thể mất đi.”

Năm 2002, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực giao ông phụ trách toàn bộ lĩnh vực đất đai, với kỳ vọng góp phần chuyển chính sách từ cơ chế bao cấp sang thị trường.
Tuổi thơ không trực tiếp chọn nghề thay ông. Nhưng có lẽ nó đã tạo nên hệ quy chiếu để khi làm chính sách, ông luôn trở lại với những câu hỏi về công bằng: Giá trị tăng thêm từ đất thuộc về ai? Người bị thu hồi đất được hưởng gì? Làm thế nào để nguồn lực đất đai phục vụ phát triển mà không đẩy người dân ra ngoài những lợi ích chính đáng?
Sau này, việc nhận chuyển nhượng lại mảnh đất xưa không chỉ giúp ông khép lại nỗi đau cũ, mà còn như hoàn tất lời ông nội từng dặn. Sau biết bao biến động, chỉ cần giữ được phẩm cách, không ngừng học hỏi và dựa vào trí tuệ của mình, con người rồi sẽ vượt qua nghịch cảnh:
“Chịu cực một chút, rồi mai đây trời lại cho ta phong lưu thôi mà. Tôi vẫn nhớ lời ông nội dặn như thế.”

Một buổi sáng cách đây khoảng 7–8 năm, chuông cửa nhà GS Đặng Hùng Võ vang lên.
Ngoài cửa là một người đàn ông ăn mặc lịch sự, tự giới thiệu là người phụ trách một dự án tại Ba Vì (Hà Nội) mà GS.Võ từng viết bài phản biện trên báo.
Người này nói với ông Võ: “Hôm nay tìm đến anh, chỉ mong anh đừng tiếp tục viết về dự án của tôi nữa.”
Nhìn vẻ khép nép của vị khách, ông Võ từ tốn đáp: “Anh không cần cất công đến để nhờ. Thực ra, tôi sẽ không viết tiếp. Một vấn đề, tôi chỉ nói một lần để cảnh báo cơ quan có trách nhiệm. Họ nghe hay không là việc của họ. Tôi đã nói và không bao giờ nói đi nói lại một việc.”
Cuộc trò chuyện tưởng như đã kết thúc. Nhưng khi đứng dậy ra về, vị khách bất ngờ lấy ra một xấp tiền mặt rất dày để cảm ơn.
Ông Võ nói: “Anh không phải cảm ơn tôi, tôi dừng viết vì đó là phong cách viết báo của tôi, không phải vì nghe anh đề nghị. Anh cầm lại tiền đi, tôi cầm tiền của anh làm gì, cuộc sống mất vui đi.”
Nhưng người đàn ông vẫn cứ muốn làm theo cách của mình, ông Võ dứt khoát đáp: “Tôi chẳng giúp anh việc gì thì cầm tiền làm gì? Giao thiệp mà cứ phải đưa đồng tiền ra, nó mất hay.”

Khi ấy, ông Võ đã trải qua 2 cuộc hôn nhân, phần lớn tài sản tích lũy không còn trong tay. Bởi vậy, lời từ chối không đến từ sự dư dả của một người có quá nhiều nên không cần tiền.
Ông chỉ giữ cho riêng mình ranh giới rất rõ ràng: không đứng ra bảo vệ bất cứ doanh nghiệp nào vì lợi ích, cũng không dùng danh tiếng để “đánh” một ai. Tiếng nói chuyên môn, nếu cất lên, phải xuất phát từ điều ông tin là đúng.
Ranh giới ấy một lần nữa xuất hiện trong câu chuyện với ông Đoàn Văn Vươn.
Khi vụ cưỡng chế, thu hồi đất tại Tiên Lãng (Hải Phòng) gây nhiều tranh luận, GS.Võ là một trong những chuyên gia lên tiếng mạnh mẽ về những điểm ông cho là trái pháp luật.
Sau khi trở về từ trại giam, ông Vươn gọi điện, xin đến gặp để cảm ơn.
Ông Võ từ chối.
“Tôi với anh không quen nhau. Tôi làm không phải do anh đề nghị, cũng không làm vì tên của anh. Tôi làm là vì đạo lý. Anh chẳng có gì phải cảm ơn tôi cả.”
Ông lo rằng nếu người được mình bảo vệ tìm đến tận nhà, một việc vốn trong sáng có thể bị nhìn sai lệch. “Nó đang là một câu chuyện tử tế, đừng để mất điều đó.”
Tiền bạc hay sự biết ơn, ông đều từ chối để mọi chuyện dừng lại đúng giới hạn.
Năm 2007, GS Đặng Hùng Võ nghỉ hưu. Nhưng đất đai giống như một cái nghiệp chưa từng rời khỏi ông. Khi ấy, giáo sư trên 60 tuổi có thể tiếp tục làm việc đến lúc 70 tuổi. Có người gợi ý ông viết đơn, xin ở lại bộ máy hành chính.
“Tôi trả lời ngay: ‘Các anh phải viết đơn gửi tôi, tại sao tôi phải viết đơn?’ Sau đó, tôi nhận lời giảng dạy chính thức tại khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, đồng thời làm tư vấn cho Ngân hàng Thế giới mà không phải viết đơn xin ai cả.”
Tuổi 80, ông vẫn kiếm tiền bằng tri thức và sức lao động của mình. “Còn làm được, còn kiếm được tiền thì vẫn ổn.”
Điều khiến ông thấy may mắn không phải là từng sở hữu bao nhiêu căn nhà, mà là đến nay vẫn khỏe mạnh, đầu óc minh mẫn và chưa bao giờ bị đẩy vào cảnh bí bách đến mức phải làm điều trái với lương tâm để tồn tại.
Nhìn lại những căn nhà đã rời khỏi tay, 3 cuộc hôn nhân đổ vỡ và không ít tổn thương, ông chỉ nói rằng: “Tôi là người rất lạc quan. Việc đến đâu thì lo đến đấy. Không lạc quan thì không sống được sau ngần ấy chuyện.”
Có lẽ đến cuối đời, ông đã sống trọn lời người ông nội của ông từng dặn trong những năm gia đình khốn khó. Tuổi 80, ông không giàu. Nhưng có lẽ, sự tự do và thong dong ấy chính là chữ “phong lưu” ông nội từng nói.
